1. NGUYÊN NHÂN
Bệnh do vi khuẩn Mycoplasma suis thuộc giống Mycoplasma gây ra. Có dạng hình cầu hoặc oval, kích thước khoảng 0,8 μm – 2,5 μm. Do Mycoplasma suis kí sinh trên và trong tế bào hồng cầu nên heo bị nhiễm M. suis có tình trạng giảm tỷ lệ và số lượng hồng cầu, nồng độ hemoglobin, glucose và sắt, trong khi nồng độ bilirubin trong máu gia tăng, dẫn đến sự thiếu máu cấp hoặc mãn tính ở heo nhiễm, làm giảm năng suất, gia tăng tỷ lệ nhiễm kế phát, chết do bội nhiễm ở tất cả các nhóm heo nhiễm M. suis (Ritzmann et al., 2009).
2. TÁC NHÂN VÀ CƠ CHẾ GÂY BỆNH
M. suis bám trên bề mặt hồng cầu, gây tan huyết và dẫn đến thiếu máu. Khi heo bị stress, dinh dưỡng kém hoặc đồng nhiễm với các bệnh khác (PRRS, PCV2/3…), bệnh sẽ bộc phát rõ rệt, gây thiệt hại kinh tế nặng nề.
Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi trên heo. Trên các nghiên cứu trên thế giới, tỉ lệ nhiễm sẽ khác nhau tuỳ vào khu vực địa lí và độ tuổi của heo, đặc biệt tị lệ heo nái nhiễm trong các trang trại thường khá cao. Ở Đức, có đến 40,8% trại nhiễm M. suis với khoảng 13,9% heo choai (20 – 30 kg) dương tính với M. suis (CSIRO, 2012), tỷ lệ heo con sơ sinh trước khi bú dương tính với M. suis là 14,35%, trong khi có có đến 31,25% heo nái dương tính với M. suis. Trong khi đó tỷ lệ heo dương tính với M. suis tại Úc ở mức rất thấp, chỉ dao động trong khoảng 4,29 – 6,45 % (CSIRO, 2012). tại Pháp đã ghi nhận có đến hơn 50% nái dương tính với M. suis, ở mọi lứa đẻ.
Bệnh lây lan chính qua đường máu, không qua tinh dịch, nước bọt. Đặc biệt giai đoạn đầu heo con theo mẹ – thời điểm thực hiện các thao tác kĩ thuật như bấm nanh, cắt đuôi, thiến heo, chủng vacxin,.. nếu không được vệ sinh sát trùng đầy đủ sẽ là mối nguy cơ làm lây lan bệnh giữa các đàn.
Theo nghiên cứu của Zhongyang và các cộng sự (2017) cho thấy tỷ lệ nhiễm M. suis có biến động theo thời tiết, tăng cao hơn vào lúc thời điểm giao mùa, mùa khô. Đây cũng là thời điểm tạo điều kiện thuận lợi cho các côn trùng hút máu sinh sôi nhiều như ruồi, muỗi,….
Các yếu tố stress từ bên ngoài tác động như thời tiết, môi trường, tình trạng sức khoẻ vật nuôi,…. là những yếu tố nguy cơ làm trầm trọng thêm tình trạng bệnh do M. suis gây ra. Sự lây nhiễm từ bên ngoài vào chủ yếu do việc nhập heo nhiễm vào trong trại.
3. TRIỆU CHỨNG
3.1 Thể cấp tính
a. Đối với heo con theo mẹ
Heo còi cọc, da nhợt nhạt, trắng da, xanh xao, gầy yếu
Độ đồng đều thấp, phát triển kém, có nhiều kích thước khác nhau
Vành tai có thể có màu tím bầm, sưng phù mí mắt
Có thể xuất hiện dấu hiệu yếu chân, heo con run, đi không vững, co giật do hạ đường huyết
b. Đối với heo cai sữa
Mệt mỏi, lờ đờ, giảm ăn, chậm lớn
Da và niêm mạc nhợt nhạt, thể trạng xấu, còi cọc, lông xù
Thở gấp, thở bụng
Hoại tử mỏm tai – mỏm đuôi
c. Đối với heo nái
Sốt cao 40-42°C, nhịp thở tăng, giảm ăn
Thiếu máu, da nhợt nhạt (vàng da), mất sữa
Chậm động dục, sảy thai hoặc đẻ non
Giảm tỉ lệ phối đạt, rối loạn chức năng sinh sản
Heo con sinh ra gầy yếu, còi cọc
3.2 Thể mãn tính:
Việc điều trị bằng kháng sinh không đủ để loại trừ hoàn toàn M. suis khỏi cơ thể heo nhiễm gây nên tình trạng nhiễm mạn tính, heo có thể trạng kém, vàng da, chậm lớn, da khô, lông xù, suy giảm miễn dịch khiến heo dễ mẫn cảm với các bệnh trên đường hô hấp và đường tiêu hoá, tăng chi phí điều trị. Bên cạnh đó, heo bị nhiễm M. suis ở thể cấp sau khi hồi phục hoặc heo lớn nhiễm M. suis thể nhẹ, có thể chuyển sang tình trạng mang trùng, là vật chủ lưu trữ và truyền lây mầm bệnh.
Heo nái: Lượng sữa và chất lượng sữa giảm
4. BỆNH TÍCH
Máu loãng, nhạt màu.
Tụ huyết ở gan, lách, thận.
Dấu hiệu thiếu máu, vàng da rõ rệt.
Tổn thương nội tạng thường không đặc hiệu nhưng phản ánh tình trạng thiếu oxy toàn thân.
5. CHẨN ĐOÁN
Phết máu ngoại vi: có thể thấy vi khuẩn bám quanh hồng cầu, nhưng độ nhạy thấp.
Xét nghiệm PCR: là phương pháp chính xác và đáng tin cậy nhất để khẳng định sự có mặt của M. suis.
Xét nghiệm huyết học: phát hiện thiếu máu tán huyết, giảm hematocrit, giảm hemoglobin.
6. ĐIỀU TRỊ
Bước 1: Vệ sinh – sát trùng
Phun thuốc sát trùng IF-100 với liều 3 ml/1 lít nước, 4 lít nước pha/100 m² chuồng nuôi, phun 1 lần/ngày trong suốt thời gian xử lý dịch
Sát trùng kỹ dụng cụ: đỡ đẻ, dao, kéo, kìm bấm nanh và phải sát trùng kỹ vết thương hở
Phải chích mỗi heo 1 kim trong trường hợp phải điều trị hoặc chích trong quy trình phòng bệnh
Bước 2: Dùng thuốc (Kháng sinh + bổ trợ)
a. Trên heo con theo mẹ:
- Tiêm Hanoxyllin LA liều 0,3 ml/con, liệu trình 3 ngày liên tiếp, sẽ lặp lại quy trình này sau 2 – 4 tuần
- Chích bổ sung thêm 1 mũi sắt duy nhất vào ngày đầu điều trị BIO FER + B12 20% 1ml/ con
- Tiêm bổ sung vitamin nhóm B/B12 – Catosal và B.complex để heo khoẻ mạnh
b. Trên heo nái, heo thịt và heo sau cai sữa
Kháng sinh trộn toàn đàn: Lựa chọn 1 trong các phác đồ dưới đây:
- Oxytetracyclin 50% với liều: 1 kg/ tấn thức ăn
- Super Doxy 50% 1 kg cho 2.5 tấn thức ăn
Trộn 2 tuần liên tiếp, sau đó: trộn định kỳ 1 tháng 1 lần (10 ngày/ 1 lần trộn)
Kháng sinh tiêm: Khi chỉ số HBG <100, sử dụng BIO SONE liều 1ml/10 kg TT, liệu trình 3 – 5 ngày, hoặc MACAVET liều 1 ml/ 10 kg TT, liệu trình 3-5 ngày.
Cần thiết sẽ lặp lại liệu trình này sau 3 – 4 tuần.
c. Bổ trợ
– Bổ máu, tăng tạo máu: Bổ sung BIO METASAL 1 ml/10 kg TT hoặc CATOSAL liều 1 ml/10 – 20 kg TT/ngày, liệu trình 3 – 5 ngày.
– Trường hợp heo bị hạ đường huyết: Tiêm phúc xoang Gluco 30% hoặc cho uống Gluco KC 250 g/20 lít nước để tăng lực, bổ sung năng lượng và bổ máu cho heo.
– Với heo nái: trộn BIO ADE Bcomplex cho heo nái ăn với liều 3 kg/ tấn thức ăn.
d. Lưu ý
- Chích mỗi heo 1 kim trong trường hợp phải điều trị hoặc chích trong quy trình phòng bệnh
- Sát trùng dụng cụ theo từng bầy khi tiến hành cắt nanh – cắt đuôi – thiến hoạn.
- Không tiêm vaccine bất kỳ trong giai đoạn heo nhiễm M.suis -> tiêm lại vaccine sau khi đã điều trị ổn định
7. PHÒNG NGỪA
Hiện tại chưa có vắc-xin để phòng bệnh do M. suis. Việc phòng bệnh cần kết hợp các biện pháp quản lý và sử dụng thuốc kháng sinh nhóm Tetracyclines (Tetracycline, Oxytetracycline, Doxycycline, Chlotetracycline). Do bệnh lây nhiễm qua đường máu và có thể lây truyền từ mẹ sang con, vì vậy để phòng bệnh cần thực hiện đồng bộ các biện pháp sau:
Kiểm tra tình trạng nhiễm suis ở heo hậu bị trước khi nhập đàn. Heo hậu bị nhiễm phải được điều trị bằng tetracyclines trong vòng 7 – 10 ngày, lặp lại việc điều trị sau 1 tháng.
Sử dụng kim tiêm riêng cho mỗi bầy heo con theo mẹ hoặc cho mỗi cá thể heo sau cai sữa trở đi. Tiệt trùng nghiêm ngặt các dụng cụ cắt rang, cắt rốn, cắt tai.
Quản lý tốt các yếu tố nguy cơ gây tổn thương da của heo: không để heo giành vú, cắn tai, cắn đuôi…